6 BIẾN CHỨNG TĂNG HUYẾT ÁP mọi người cần biết rõ | Dr Ngọc

Biến chứng tăng huyết áp sẽ gây ra các tình trạng bệnh lý ở tim, não, thận và một số cơ quan khác. Chính vì thể bệnh lý tăng huyết áp là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu.

Trong bài viết hôm nay Dr Ngọc sẽ chia sẻ với mọi người 6 biến chứng tăng huyết áp và cách phòng ngừa chúng. Hãy cùng Dr Ngọc theo dõi hết bài viết hôm nay nhé!

 

1. Tăng huyết áp ảnh hưởng đến cơ thể của bạn như thế nào?

biến chứng tăng huyết áp

biến chứng tăng huyết áp

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2015, cứ 4 nam giới và 5 nữ giới thì có 1 người mắc bệnh tăng huyết áp. Một khảo sát gần đây cho thấy gần 1/3 người trưởng thành ở khu vực thành thị Đông Nam Á có huyết áp cao. Tương tự, tại Việt Nam, tỷ lệ này là 25% đối với người trên 25 tuổi, trong đó gần 60% chưa được phát hiện và hơn 80% chưa được điều trị. Trong số những người được điều trị, chỉ có 1/5 đạt được kiểm soát huyết áp.

HA là áp lực của máu trong các mạch máu, gồm hai trị số: huyết áp tâm thu (số đầu) là áp lực máu khi tim co bóp và huyết áp tâm trương (số sau) là áp lực máu khi tim thư giãn (ví dụ: huyết áp 120/70 mmHg). Hệ thống mạch máu trong cơ thể giống như các ống dẫn, đưa máu đến các cơ quan.

Nếu hệ thống ống dẫn này phải chịu áp lực cao trong thời gian dài, chúng sẽ bị phình giãn (thành ống yếu đi, dễ bị rách hoặc vỡ), hoặc cứng lại mất tính đàn hồi, hoặc lớp bên trong bị tổn thương và tích tụ các mảng xơ vữa gây hẹp và bít tắc dần. Tất cả các mạch máu lớn (như động mạch chủ, động mạch cảnh, động mạch đùi) và mạch máu nhỏ (như mạch máu ở đáy mắt, cầu thận, não) đều bị ảnh hưởng bởi bệnh tăng huyết áp.

 

2. Biến chứng tăng huyết áp có thể gây ra là gì?

Nếu bệnh tăng HA không được điều trị kịp thời hoặc không kiểm soát được huyết áp, nó có thể dẫn đến các biến chứng sau:

2.1 Suy tim

Khi HA tăng cao, tim phải co bóp mạnh hơn để bơm máu ra các mạch ngoại biên. Việc này kéo dài làm cho cơ tim dày lên, cứng hơn và kém đàn hồi so với tim bình thường, dẫn đến suy giảm chức năng hút máu về tim.

Bệnh nhân sẽ có triệu chứng suy tim do máu về tim khó khăn, gây ứ đọng ở phổi dẫn đến khó thở, giảm khả năng làm việc gắng sức hoặc cảm giác tức ngực.

Ngoài ra, người bị tăng huyết áp thường kèm theo bệnh mạch vành hoặc đã từng bị nhồi máu cơ tim, khiến chức năng tim giảm, dẫn đến suy tim phân suất tống máu giảm.

Trong quá trình điều trị, nếu huyết áp không ổn định và thường xuyên cao, tình trạng suy tim sẽ trở nên nghiêm trọng hơn, gây suy tim mất bù do tim phải làm việc quá sức.

 

2.2 Biến chứng ở mắt

biến chứng tăng huyết áp

biến chứng tăng huyết áp

HA cao gây tổn thương các mạch máu nhỏ ở đáy mắt, cụ thể là võng mạc, nơi thu nhận hình ảnh khi nhìn. Tình trạng này gọi là bệnh võng mạc do tăng huyết áp. Tổn thương ở mức độ nhẹ đến vừa có thể không gây triệu chứng gì và chỉ được phát hiện khi khám mắt hoặc chụp võng mạc.

Lúc đó, các mạch máu võng mạc có thể trở nên ngoằn ngoèo, cứng, hẹp, co thắt hoặc bị phù nề. Nếu tình trạng nghiêm trọng hơn, có thể dẫn đến xuất huyết sau võng mạc hoặc phù gai thị, gây nhìn mờ hoặc mù lòa.

Vì vậy, người bị tăng HA  cần kiểm tra mắt định kỳ và chụp võng mạc để phát hiện sớm biến chứng này. Kiểm soát HA tốt là cách hiệu quả để phòng ngừa bệnh võng mạc do tăng huyết áp.

 

2.3 Phình và bóc tách động mạch chủ

HA áp cao gây tăng áp lực lên thành động mạch chủ, dẫn đến việc thành mạch dần bị suy yếu và giãn ra. Hiện tượng giãn động mạch chủ lên (đoạn vừa ra khỏi tim) thường gặp ở bệnh nhân bị tăng huyết áp.

Ở người trưởng thành, động mạch chủ lên có kích thước trung bình khoảng 30mm. Khi kích thước này vượt quá 45mm, nó được gọi là phình động mạch chủ. Đoạn động mạch chủ bị phình có thành mạch yếu, và HA cao có thể gây tổn thương, xé rách các lớp bên trong thành mạch, dẫn đến bóc tách thành động mạch hoặc vỡ động mạch chủ, gây tử vong.

Khi động mạch chủ lên giãn ≥ 55mm, thường cần can thiệp phẫu thuật hoặc đặt stent để ngăn ngừa bóc tách hoặc vỡ động mạch chủ. Bệnh nhân tăng huyết áp có phình động mạch chủ cần kiểm soát HA chặt chẽ (duy trì dưới 120/70 mmHg), điều trị tích cực xơ vữa động mạch và theo dõi kích thước động mạch chủ thường xuyên bằng siêu âm tim hoặc chụp CT động mạch chủ.

 

2.4 Bệnh động mạch ngoại biên 

HA cao ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống mạch máu trong cơ thể, bao gồm động mạch cảnh, động mạch cột sống, động mạch thận, động mạch nội tạng, và đặc biệt là các mạch máu xa như động mạch ở hai chân. Các mạch máu này trở nên cứng, bị xơ vữa và vôi hóa, dẫn đến tình trạng hẹp hoặc tắc nghẽn.

Khi mạch máu ở chân bị hẹp hoặc tắc, bệnh nhân có thể gặp triệu chứng đau cách hồi, tức là đau ở đùi hoặc bắp chân khi đi bộ một đoạn đường. Sau khi ngồi nghỉ, cơn đau sẽ giảm hoặc hết. Tuy nhiên, khi đi lại đoạn đường dài tương tự, triệu chứng đau lại xuất hiện. Trường hợp nặng hơn, người bệnh có thể bị đau nhức chân ngay cả khi nghỉ ngơi hoặc gặp tình trạng loét chân không lành do mạch máu bị hẹp, không cung cấp đủ máu tới các vùng xa.

 

2.5 Rối loạn trí nhớ và sa sút trí tuệ

biến chứng tăng huyết áp

biến chứng tăng huyết áp

Tăng HA và rối loạn trí nhớ thường gặp ở người cao tuổi. Nhiều nghiên cứu cho thấy, tăng huyết áp làm gia tăng xơ vữa động mạch, dễ dẫn đến nhồi máu não im lặng (nhồi máu não lỗ khuyết khi chụp cắt lớp hoặc cộng hưởng từ não) và bệnh lý chất trắng dưới vỏ não, là nguyên nhân gây ra rối loạn trí nhớ và sa sút trí tuệ.

Nguy cơ sa sút trí tuệ hay bệnh Alzheimer tăng gấp 6 lần ở những người bị đột quỵ sau 5 năm. Tỷ lệ mắc các bệnh này đang gia tăng ở các nước châu Á, đặc biệt là các nước đang phát triển. Việc điều trị tích cực bệnh tăng huyết áp giúp giảm nguy cơ đột quỵ, làm chậm tiến triển bệnh lý chất trắng và ngăn ngừa rối loạn trí nhớ hay sa sút trí tuệ, đặc biệt ở người cao tuổi bị tăng HA  lâu năm.

 

2.6 Rối loạn cương dương

Trong ba người mắc tăng huyết áp, có một người phải đối mặt với vấn đề rối loạn cương dương (bất lực). Tình trạng này ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và cần được điều trị kịp thời. Đôi khi, rối loạn cương dương có thể là dấu hiệu sớm của bệnh tăng huyết áp, thúc đẩy người bệnh đi khám. Nguyên nhân gây ra rối loạn này có thể do nhiều cơ chế khác nhau, bao gồm bệnh tăng huyết áp hoặc tác dụng phụ của thuốc điều trị huyết áp.

Tăng huyết áp gây tổn thương lớp nội mạc của thành mạch máu, lớp này tiết ra chất NO (nitric oxide), một chất giãn mạch máu nội sinh trong cơ thể, giúp chống lại sự co thắt mạch. Khi thiếu NO, cơ trơn mạch máu ở dương vật không thể giãn ra, dẫn đến rối loạn cương cứng.

 

 

 

Liên hệ với Dr Ngọc:

Chuyên Mục:
Bài viết mới: